Kháng sinh: Vai trò kháng sinh trong điều trị đợt bội Chích máu: ít dùng, chỉ

Có thể làm giảm huyết áp và bắt đầu một vòng xoắn bệnh lý của suy thất phải do giảm lưu lượng máu
mạch vành phải và co mạch. Thuốc giãn mạch cũng có thể làm giảm oxy trong động mạch do
Hệ thống mạch máu phổi bị gián đoạn, gây mất cân bằng thông khí – máu đến phổi.
c. Kết quả của các nghiên cứu về điều trị TPM với các thuốc giãn mạch này không có kết quả và
Không có loại thuốc nào trong số này được khuyến cáo sử dụng thường xuyên trong thực tế
lâm sàng. Các nitrat dường như có tác dụng tốt, nhưng trên thực tế không có vai trò rõ ràng vì chúng
giảm nồng độ oxy trong động mạch và giảm chỉ số tim.
d. Điều trị TPM bằng thuốc giãn mạch cần phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ được dùng khi có các bệnh lý sau
Liệu pháp thông thường và liệu pháp oxy không cải thiện tình trạng suy tim bên phải và tăng huyết áp động mạch
mạch phổi. Bởi vì những loại thuốc này có nhiều tác dụng phụ, huyết động của chúng và
Vận chuyển oxy nên được kéo dài, sau 4 đến 5 tháng điều trị và tốt nhất là đánh giá bằng
đặt ống thông tim phải.

5. Thuốc kháng sinh: Vai trò của thuốc kháng sinh trong điều trị đợt cấp.

nhiễm trùng là rất quan trọng. Nên dùng kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng, dùng kéo dài và liều l-
cao trong 2-3 tuần tiêm, uống, khí dung. Nhiều tác giả dùng kháng sinh ngoài bội nhiễm
nhiễm trùng để phòng ngừa, đặc biệt là cho uống kháng sinh trong những tháng lạnh, cứ 10 ngày một lần, 3 phút
tháng
. 6. Corticoid: Có tác dụng điều trị các đợt cấp: sử dụng
Prednisolone uống, Hydrocortisone khí dung, Depersolon hoặc Solu-Medron tiêm tĩnh mạch.
194
Corticoid vừa có tác dụng chống viêm, vừa chống dị ứng và giảm tiết dịch.

7. Tiêm máu: ít dùng, chỉ dùng khi hematocrit lớn hơn.

65. Thu thập khoảng 300ml máu mỗi lần. Sau khi tiêm máu, áp lực và sức cản động mạch phổi trung bình
Mạch máu phổi thường giảm, cung lượng tim thay đổi không đáng kể, vận chuyển oxy giảm nhiều, và
Mức tiêu thụ oxy khi nghỉ ngơi có thể tăng lên một chút hoặc không thay đổi. Việc tiêm máu có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng
gắng sức ở bệnh nhân TPM. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng tập thể dục, thời gian gắng sức và mức độ
Mức tiêu thụ oxy tối đa đã tăng lên đáng kể sau khi tiêm máu ở bệnh nhân TPM bị bệnh đa hồng cầu.
Chích máu để giảm hematocrit xuống khoảng 50 có tác dụng tốt về huyết động trong thời gian dài.
ngắn, đặc biệt là khi gắng sức. Tuy nhiên, tác động lâu dài của việc tiêm máu lặp lại vẫn chưa được biết rõ.
xác định.

8. Chế độ ăn uống và nghỉ ngơi: Những người đang ốm

Bệnh phổi mãn tính, khi đã xuất hiện tình trạng khó thở thì nên làm những công việc nhẹ nhàng, không nên gắng sức. Khi có dấu hiệu
Suy tim phải phải nghỉ làm hoàn toàn. Ăn ít muối.

9. Không sử dụng các loại thuốc sau: Morphine, gardenal và

Các thuốc an thần khác không được dùng cho bệnh nhân TPM vì sẽ gây suy hô hấp.

10. Bài tập thở: Rất quan trọng, làm tăng tính đàn hồi của

phổi và lồng ngực, tăng thông khí phế nang, đặc biệt là tập thở bằng cơ hoành.
11. Loại bỏ các yếu tố kích thích: Thuốc lào, thuốc lá … C. Điều trị tâm phế mạn ở một số thể đặc biệt.

1. Bệnh tim phế quản ở bệnh nhân hen phế quản: cho


Source: https://giacongreal.com/
Catalogue: Giảm cân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.